Pages

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Chợ đêm Đồng Xuân

Chợ đêm, hay còn được gọi với cái tên đầy đủ là chợ đêm Đồng Xuân diễn ra đều đặn vào buổi tối hàng tuần tại khu chợ sầm uất bậc nhất tại phố cổ Hà Nội. Nơi đây là điểm hẹn thú vị của không chỉ người dân Hà Thành mà của cả những du khách phương xa lần đầu có dịp đặt chân tới mảnh đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến.

Chợ đêm Đồng Xuân diễn ra trên tuyến đường dành riêng cho người bộ

Những quầy hàng trong chợ đêm kéo dài từ phố Hàng Đào tới chợ Đồng Xuân, tạo nên một tuyến phố đi bộ sôi động, tấp nập đầy màu sắc và âm thanh huyên náo.

Thiên đường mua sắm

Có vô vàn những hàng hóa được bày bán tại chợ đêm, từ những mặt hàng thời trang như quần áo, giày dép, khăn, túi xách, các phụ kiện đi kèm cho tới những mặt hàng lưu niệm như thiệp mừng, đồ chơi, thú nhồi bông, móc chìa khóa và cả những mặt hàng nhu yếu phẩm như bát đĩa, lọ hoa… trên các tuyến phố phụ như Hàng Ngang, Hàng Đường, Lương Văn Can, Hàng Mã, Hàng Bồ…

Những quầy hàng thời trang luôn nhận được sự quan tâm lớn nhất của du khách

Chốn hẹn hò lý tưởng

Với nhiều người Hà Nội, được tới chợ đêm dạo chơi hàng tuần dường như đã trở thành một thói quen, một sở thích dù cho họ thậm chí tới đây không với mục đích đi mua sắm như khi tới những khu chợ thông thường. Đội khi, người ta tới chợ đêm chỉ để được hòa mình vào cái không khí sôi động, náo nhiệt của một góc đêm Hà Nội; được cùng bạn bè và người thân tụ tập trò chuyện, hàn huyên và thưởng thức những món ăn vặt yêu thích.

Chợ Đêm Đồng Xuân cũng là điểm hẹn ưa thích của các cặp đôi

Với các cặp đôi đang yêu, được cùng nắm tay sánh bước hòa mình cùng nhịp sôi động của chợ đêm cũng là một niềm hạnh phúc. Còn với các em nhỏ, chợ đêm là nơi chúng có thể thỏa sức chơi đùa và ngắm nhìn hàng dãy dài những quầy hàng sáng rực với đủ màu sắc, đủ các mặt hàng, đủ các món đồ chơi lạ mắt như tranh cát, tượng đất hay thú nhồi bông….

Những quầy hàng đồ chơi và đồ lưu niệm nổi bật với sắc màu sinh động

Điểm hẹn không thể bỏ qua dành cho khách du lịch

Rất nhiều khách du lịch tới với Hà Nội cũng rất muốn được ít nhất một lần đến với chợ đêm Đồng Xuân và hòa vào dòng người nào nhiệt; họ chụp ảnh lưu niệm, thưởng thức những thức quà vặt của chợ đêm, nhờ những nghệ sĩ đường phố phác họa cho mình một  tấm chân dung truyền thần và cũng không quên tìm cho mình những món hàng lưu niệm xinh xắn dành tặng gia đinh và bạn bè. Rất nhiều món quà lưu niệm bán ở chợ đêm có giá cả phải chăng hơn mà chất lượng cũng rất đảm bảo so với các sản phẩm tại các cửa hàng trên phố hay những khu chợ khác.

Nhiều du khách tỏ ra rất hứng thú với các sản phẩm lưu niệm mang đậm phong cách các văn hóa Việt Nam.

  Một nghệ sĩ vẽ tranh truyền thần Phố cổ

Đi chợ đêm, nghe hát xẩm

Những nghệ sỹ hát xẩm nhiệt tình phục vụ du khách ghé thăm chợ đêm

Đã thành thông lệ, cứ đến tối thứ 7, chợ đêm Đồng Xuân trở nên náo nhiệt hơn, phần vì tối cuối tuần, người mua kẻ bán đông đúc hơn, nhưng cũng còn có một lý do khác nữa, đó là vì hôm đó chiếu xẩm “Hà Nội 36 phố phường” ở trước cổng chợ Đồng Xuân lại “sáng đèn” phục vụ du khách, mang lại một nét văn hóa rất riêng có của đất Kinh kì xưa.

Thế giới ẩm thực đa dạng

Đặc biệt, có khi người ta đến chợ đêm Đồng Xuân không chỉ để mua sắm mà còn để  thưởng thức những món ăn đêm rất đặc trưng của Hà Nội như phở, bún ốc, bún đậu, chè thập cẩm, bánh rán, ô mai, phô mai que, hoa quả dầm, bánh khúc, nem chua rán, bánh mỳ Hải Phòng… và ngắm nhìn dòng người ngược xuôi qua lại.

Ô mai – món ăn đặc sản của phố Hàng Đường
Bánh Thái Lan
Hoa quả dầm ph C

Suối cá Cẩm Thủy – Thanh Hóa

Suối cá thần có dòng nước trong vắt, dài khoảng vài chục mét, rộng chừng 3 m, chảy từ trong núi ra cửa hang rộng với mực nước thông thường sâu khoảng 30 – 50 cm.Suối cá thần nằm ở chân núi Trường Sinh thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Du khách có thể đến đây theo quốc lộ 217, nối từ Đò Lèn về cầu treo Cẩm Lương hoặc đi theo đường Hồ Chí Minh đến thị trấn Cẩm Thủy rồi rẽ lên quốc lộ 217. Nếu đi theo đường thủy, du khách có thể dùng thuyền bơi dọc sông Mã, từ cầu Hàm Rồng (thành phố Thanh Hóa) đến Cửa Hà, Cẩm Thủy.


Suối cá thần là điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Đây là nơi sinh sống của hàng nghìn con cá được người dân gọi là cá thần, tên chính là cá dốc. Loài cá này thuộc bộ cá chép, có tên trong sách Đỏ Việt Nam. Mỗi con có trọng lượng 1 – 20 kg. Theo người dân ở đây thì cá chúa, nằm trong hang, có trọng lượng lên đến 30 kg. Cá thần có hình dáng rất lạ với hoa văn đa dạng, nhiều màu sắc phong phú như: đỏ, xanh, hồng. Mỗi khi loài cá này bơi, vây phát ra nhiều màu sắc lấp lánh ánh bạc trông rất ấn tượng và vui mắt.

Những hôm trời nắng ấm, đàn cá tung tăng bơi lội từ trong hang ra suối. Dân bản Ngọc và du khách quan niệm, đàn cá thần này mang lại cho họ cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc và sẽ là may mắn cho những ai được sờ vào người cá. Vì vậy, không ai dám bắt cá ăn thịt, trái lại còn hết sức chăm sóc bảo vệ.

Người dân bản Ngọc đi làm đồng thấy cá thần ngoài ruộng do lũ cuốn, lập tức nâng niu và mang về suối thả. Những chú cá thần ở đây rất thân thiện với con người, du khách có thể đưa tay xuống nước chạm vào người chúng vuốt ve và cho cá ăn rau, ngô, khoai, sắn… Suối cá thần là điểm du lịch khá hấp dẫn và đã thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Nhờ vẻ đẹp nguyên sơ, Suối cá thần được Nhà nước xếp hạng là một trong những cảnh đẹp cấp quốc gia.Trên đường đi vào Suối cá thần, du khách còn được chiêm ngưỡng những căn nhà sàn đơn sơ, mộc mạc của đồng bào dân tộc Mường nằm khuất bên sườn núi; chìm đắm trong một không gian yên bình của những dãy núi đá cao chót vót với nhiều hình hài kỳ thú nằm hai bên bờ sông Mã; tìm hiểu những phong tục, tập quán độc đáo của bà con dân tộc thiểu số nơi đây như: dệt thổ cẩm, uống rượu cần, múa pồn-pông…

Nhờ vẻ đẹp độc đáo, nguyên sơ, Suối cá thần đã được Nhà nước xếp hạng là một trong những cảnh đẹp quốc gia.

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Nhà thờ đá Phát Diệm – Ninh Bình

Nhà thờ Phát Diệm được xây dựng năm 1891 với những bức tường được làm hoàn toàn bằng đá, do đó, nó cũng được gọi với cái tên thân thuộc là “Nhà thờ đá”.


Nhà thờ Phát Diệm nằm ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 120 km về hướng Nam. Điểm đặc biệt của nhà thờ này là ở chỗ dù là một trong những nhà thờ Công giáo nổi tiếng nhất nước ta song nhà thờ Đá Phát Diệm lại mang một lối kiến trúc hệt như những ngôi chùa truyền thống của người Việt.

Toàn cảnh nhà thờ đá Phát Diệm

Quần thể nhà thờ Phát Diệm gồm 1 Nhà thờ lớn và 5 nhà thờ nhỏ (trong đó có một nhà thờ được xây dựng bằng đá tự nhiên, được gọi là nhà thờ đá), Phương Đình (nhà chuông), Ao Hồ và 3 hang đá nhân tạo.

Từ Cổng chính đi vào, du khách sẽ nhìn thấy Ao Hồ – một hồ nước hình chữ nhật, rộng khoảng 4 ha, được kè đá xung quanh nằm trực diện với con đường từ thị trấn Phát Diệm dẫn vào nhà thờ. Giữa hồ là một hòn đảo trên đó có bức tượng Chúa.

Phương Đình

Qua sân nhà thờ, du khách có thể bắt đầu chuyến thăm Phương Đình – một kiệt tác của quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm cao 25m, rộng 17m, dài 24m gồm ba tầng được xây dựng bằng đá phiến, lớn nhất là tầng dưới cùng được xây dựng bằng đá xanh. Trên 4 đỉnh tháp có 4 pho tượng tượng bốn vị Thánh Sử, mà từ đường nét, tư thế đến đường mây nếp áo khiến ta dễ lầm với các pho tượng trong các đền chùa Việt Nam.

Một ô cửa đá nhìn từ bên trong Phương Đình

Nhà thờ lớn được xây dựng từ năm 1891, nay là nhà thờ Chính tòa của vị Giám mục Phát Diệm. Nhà thờ lớn dài 74m, rộng 21m, cao 15m, có bốn mái và có năm lối vào dưới các vòm đá được chạm trổ. Mặt trước và hai bên nhà thờ được chạm trổ các loài hoa đặc trưng của bốn mùa làm cho bàn thờ như được phủ một chiếc khăn màu thạch sáng. Hai phía bên nhà thờ có bốn nhà thờ nhỏ được kiến trúc theo một phong cách riêng.

Nhà thờ lớn
Khung cảnh bên trong Nhà thờ Lớn

Nhà thờ đá được khởi công xây dựng từ năm 1883. Tất cả mọi thứ trong nhà thờ này đều được làm bằng đá tự nhiên, từ nền, tường, cột tới chấn song cửa… Phía trong được chạm nhiều bức phù điêu đẹp, đặc biệt là bức chạm tứ quý: tùng, mai, cúc, trúc, tượng trưng cho thời tiết và vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong một năm; ngoài ra còn có những đường nét khắc họa những con vật như sư tử, phượng hoàng sống động lạ thường.

Nhà thờ đá

 
Những hoa văn, họa tiết được chạm, khắc trong nhà thờ đá Phát Diệm
rất đẹp mắt và tinh xảo

Các hang đá nhân tạo nằm ở phía Bắc quần thể nhà thờ Phát Diệm.  Có 3 hang đá cách nhau khoảng 100m được tạo nên bởi những khối đá lớn nhỏ khác nhau mà vẫn giữ nguyên dáng vẻ tự nhiên vốn có. Trong các hang đá này, hang Lộ Ðức được cho là đẹp nhất.

Hang đá phía sau nhà thờ
 
Nhà nguyện nhỏ

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Tây bắc: Nhớ mãi không quên

Những cung đường xuyên mây huyền ảo, những nấc ruộng bậc thang kì thú, rừng núi trập trùng với ngàn lau hùng vĩ…đã có những lần tôi ngơ ngẩn tìm kiếm những hình ảnh ấy giữa lòng đô thi ngột ngạt của thủ đô Hà Nội, có lẽ vì đã quá lưu luyến “ đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch”. Tôi tìm đến những quán ăn dân tộc để mong tìm lại hương vị của cơm lam, thịt gà đồi, bò khô hun khói, măn đắng chẩm chéo…Một lần lên Tây Bắc đủ để làm ta nhớ mãi không quên.


Tây Bắc – cái nôi của các dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Mường, Dao, Mông, Lô Lô, Hà Nhì… Một trong những sắc thái văn hóa dân tộc độc đáo của họ là những món ăn truyền thống nổi tiếng chỉ có ở vùng này. Người Tây Bắc vô cùng hiếu khách nhất là những khách du lịch từ phương xa đến, ngồi trong nhà sàn quanh bếp lửa, xem điệu múa xòe uyển chuyển của người con gái Thái, cùng nhau nâng li rượu nồng… đã trở thành văn hóa tiếp khách của “chủ nhà” Tây Bắc.


Trong mâm cơm của người dân tộc Tây Bắc có nhiều món ăn, mỗi món đều có hương vị đặc trưng riêng và chúng còn hấp dẫn hơn bởi cách chế biến cầu kỳ, lạ mắt. Trước hết, phải kể đến món Cơm Lam, đây là món ăn thường thấy trong các tiệc tùng, được làm từ gạo nếp, nhưng cơm lam là loại cơm đặc biệt ngon vì nó không được nấu theo cách thức thông thường mà được đốt trên bếp củi bằng những ống tre rừng còn xanh non. Gạo nếp ngâm ủ qua đêm được cho vào từng ống tre non, đổ thêm nước vừa đủ và nút lại bằng lá chuối rồi đưa lên bếp đốt cho đến khi vỏ ống tre cháy sém. Sau đó chẻ tách phần cật, chỉ còn lại lớp lụa mỏng bó chặt từng khúc cơm lam trắng nõn nà. Miếng cơm lam có thoáng chút mặn, chút hương của rừng và của khói , ăn với muối vừng, chẩm chéo hay thịt hun khói thì đậm đà biết mấy.


Mùa nào thứ nấy, họ đãi khách bằng sản vật, các món ăn chủ yếu được chấm với gia vị chẩm chéo – một loại gia vị chấm đặc trưng của người Thái – đậm đà vị cay của ớt, riềng, mặn của muối rang, hương thơm của rau. Chẩm chéo được chế biến từ món ớt giã hòa muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành… có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng… Ngoài chẩm chéo, người Thái còn có thêm một loại nước chấm vô cùng độc đáo được chế biến từ ruột non của động vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại gọi là Nậm pịa. Nậm pịa là nước nhúng lấy từ lòng non của bò, dê, trâu… kèm với một số loại rau thơm và gia vị khác. Vị đắng đắng, cay cay, bùi bùi cùng các loại rau thơm dậy hương của nậm pịa tạo thành một thứ nước chấm dễ khiến người ta phải nhớ mãi sau khi thưởng thức.


Người dân tộc Tây Bắc thích ăn những món nướng, thịt trâu hoặc bò, cá, gà nướng được họ tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ. Gia vị để ướp là tiêu rừng hay còn gọi là “mắc khén”, ớt, tỏi, gừng, muối… Trước khi đem ướp với thịt, các gia vị cũng được nướng lên cho chín, tỏa mùi thơm. Thịt thái miếng, ướp gia vị, dùng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lên than hồng; hoặc thịt băm nhỏ, bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá dong, kẹp lại, nướng trên than đỏ hoặc vùi tro nóng; khi chín, thịt rất thơm, ăn không ngán.


Con sông Đà gắn liền với đời sống tâm linh và sinh hoạt của người Tây Bắc, từ ngàn đời nay Sông Đà vừa là bạn vừa là ân nhân của họ, Tây Bắc nổi tiếng với các món ăn từ cá sông Đà. Món “pỉnh tộp” là cá nướng, nhưng thường dùng cá to như chép, trôi, trắm… mổ lưng, để ráo nước, xoa một lớp muối rang nổ; tẩm ớt tươi nướng, nghiền nát, mắc khén, để cá ngấm gia vị, cứng thịt lại rồi đặt lên than hồng. Cá chín có vị thơm hấp dẫn, dùng để uống rượu rất độc đáo. Sản phẩm cá được người Thái chế biến ra nhiều món ăn khác nhau, đặc trưng và ngon: cá hấp trong chõ gỗ, người Thái gọi là cá mọ; món “pa giảng” là cá hun khói, cá gỏi được ngâm trong nước măng chua, khi cá tái ăn kèm với các loại rau thơm, vị của cá rất thanh ngọt.


Tây Bắc còn nổi tiếng với món canh da trâu. Da trâu sau khi được lột và thui sạch lông rồi gác lên gác bếp cho khô. Để chế biến món canh nấu với bon, họ lấy số da khô vừa đủ , cạo sạch đến khi trông miếng da có màu vàng ươm, mùi thơm phức, bẻ thành từng miếng nhỏ bỏ vào nồi bon đun nhỏ lửa cho đến nhừ. Trước khi bắc xuống người ta thêm gia vị vào nồi canh bon này. Nồi canh bon đúng nghĩa là phải có đủ 30 loại gia vị mang hương vị núi rừng Tây Bắc trong đó gồm cả những gia vị dễ nhận biết như sả, cà đắng, hạt tiêu, mắc khèn. Món ăn bổ dưỡng nhưng đậm đà hương vị núi rừng này để lại cảm giác khó quên cho nhiều thực khách.


Đặt chân lên đất Tây Bắc ít nhiều cho ta cảm giác sợ hãi khi đứng giữa núi đồi ban sơ, hùng vĩ nhưng nó lại níu chân ta bằng một cách rất dịu dàng. Hương vị của ẩm thực Tây Bắc là hương vị của núi rừng, của gió đại ngàn, của vẻ đẹp văn hóa kết tinh đã ngàn năm. Đến với Tây Bắc thưởng thức những món ăn dân tộc ấy…sẽ nhớ mãi không quên.

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

Vẻ đẹp Thung Nai – Hòa Bình

Thung Nai được mệnh danh là Hạ Long giữa lòng Hòa Bình. Khu du lịch này nằm cách Hà Nội hơn 100 km thuộc huyện Cao Phong.



Đến với Thung Nai, các du khách sẽ thực sự bước vào một thế giới với phong cảnh sông núi thơ mộng. Đặc biệt những ngày nắng nóng, khi tới đây bạn sẽ được tận hưởng không khí trong lành hương rừng, gió núi của làn nước mát lạnh.


Để đặt được chỗ ở đây nên tổ chức đoàn đông có thể 2 gia đình cùng đi với nhau. Như thế sẽ dễ dàng hơn, bởi nếu quá ít 1 – 2 người thì khó thuê được thuyền. Gia đình bạn nên đặt chỗ ăn nghỉ trước, nếu có dự định ở qua đêm

Du lịch bụi đến Thung Nai là lựa chọn hợp lý của những gia đình ở khu vực Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tới đây bạn nên ghé thăm chợ nổi Thác Bờ họp phiên vào Chủ nhật (cách nhà nghỉ Cối xay gió khoảng 20 phút). Dưới chân đền Thác Bờ là các bè nuôi cá. Tới đây đừng quên thăm bản Ngòi Hoa, một bản người Mường hoang sơ. Ngoài ra, còn có một đảo nhỏ khác mang tên đảo Quạ, vì đây là điểm đàn quạ hay dừng chân.

Ban đêm có thể thuê thuyền dạo ra giữa sông, ngắm khung cảnh yên tĩnh đến lạ thường, chỉ có gió mát lành và hòa không khí của những chiếc thuyền câu. Nếu muốn, bạn hoàn toàn có thể tự câu những con cá từ lòng hồ sông Đà, nướng chín lên và thưởng thức với chén rượu nồng. Nếu muốn đông vui, có thể kết hợp với 1 – 2 đoàn khách khác cùng đến đây để tổ chức văn nghệ ban đêm


Đặc sản ở đây ngoài món cá nướng, nếu bạn muốn mua quà cho người thân thì khi đi chợ Thác Bờ nên bỏ thời gian ngắm nghía các hàng bán phong lan.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013

Đền Sóc- Chùa Non Nước.

Đền Sóc – Chùa Non Nước nằm trong quần thể khu di tích bao gồm đền Gióng, chùa Non Nước và học viện phật giáo Việt Nam.  Khu di tích cách trung tâm Hà Nội tầm 40 km đi về hướng tây bắc, thuộc địa phận xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Cả khu quần thể được ấp ôm bởi núi non điệp trùng tạo thành một khung cảnh bao là hùng vĩ giừa đất trời, xứng tầm với lịch sử thiêng liêng mà nó lưu giữ.


Chùa Non Nước có tên chữ là Sóc Thiên Vương Thiền Tự nằm ở độ cao 110m so với chân núi. Trong chùa có bức tượng Phật Tổ bằng đồng cao 6,5 m đúc liền khối nặng 30 tấn, là bức tượng phật lớn nhất Đông Nam Á. Theo thuyết phong thủy Chùa Non Nước được xây dựng trên thế long chầu hổ phục, tựa lưng vào 9 ngọn núi: Núi Đồng Sóc, núi Đá Đen (trên núi có đến hàng trăm phiến đá lớn nhỏ giống như từng đàn trâu, voi năm phủ phục), núi Voi Phục, núi Mũi Cày, núi Vẩy Rồng, núi Đá Chồng…. Chùa nằm chính giữa hình vòng cung, tựa như người ngồi trên chiếc ngai. Sách Thiền Uyển Tập Anh và sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết thiền sư đầu tiên trụ trì ngôi chùa này là Ngô Chân Lưu (933-1011). Năm 971, Ngài được vua Đinh Tiên Hoàng phong hiệu Khuông Việt Đại sư và là vị Quốc sư đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam. Ngài đã từng phù trợ cho Tam triều: Đinh – Tiền Lê – Lý và cùng với Thiền sư Vạn Hạnh phù trợ đắc lực đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, mở đầu triều đại nhà Lý – một triều đại có nền văn hoá phát triển rực rỡ và kinh tế hưng thịnh nhất thời kỳ phong kiến Việt Nam. Trải qua nhiều trăm năm, biến cố thăng trầm của lịch sử và thiên nhiên, tình cờ nền chùa cũ mới được phát hiện trong những năm gần đây và được Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định xây dựng trên nền đất cũ bằng tiền của các tăng ni phất tử và thiện nam tín nữ quyên góp. Chùa nằm trên lưng núi, có khuôn viên tôn nghiêm, phong cảnh hữu tình.


Cũng nằm trong khu quần thể là đền Gióng. Theo truyền thuyết kể lại thì khi đánh thắng giặc Ân, Thánh Gióng  phi ngựa qua sông Hồng rồi lên thẳng phương bắc và cuối cùng là tới núi Sóc. Đến chân núi, Gióng ghìm cương, ngựa hí vang, giẫm chân xoay bốn phía. Bây giờ nơi đấy gọi là làng Mã. Gióng thúc ngựa lên đỉnh núi, cởi áo sắt treo lên cành cây rồi cả người và ngựa bay lên trời.Ngày nay, dấu tích của vết chân ngựa được cho là những hồ nước trước cổng đền. Đền gióng bao gồm 4 ngôi đền nằm ẩn mình dưới tán lá cổ thụ. Từ ngoài cổng bước vào là đền Trình, tiếp là đền Mẫu, chùa Đại Bi và đền Thượng. Ngoài ra, trên đỉnh núi Vệ Linh còn có nhà bia đã tồn tại hàng trăm năm.


Mở đầu là đền Trình với một gốc đa cổ thụ linh thiêng nghiêng nghiêng bên hồ nước xanh biếc. Dưới gốc đa là hình tượng những linh vật vừa dữ tợn lại vừa hùng dũng, đang ngồi chầu về phía đền.


Qua đền Trình là chùa Đại Bi. Chỉ là một ngôi chùa  nhỏ nhưng lại có lôi kiến chúc độc đáo. Những khung cửa được phủ một màu sơn đỏ như bất biến với thời gian, mái vòm cong cong uốn cao, vút lên đẹp mắt cùng với những hàng ngói đỏ rêu rêu cổ kính. Bên trong chùa  là những hoành phi câu đối trang nghiêm lộng lẫy.

Đối diện với chùa Đại Bi là đền Mẫu. Đây là nơi thờ mẹ Thánh Gióng.


Dạo thêm vài bước là đến Đền Thượng. Đền thờ Đức Thánh Gióng. Trước của đền là một đôi ngựa gỗ, tượng trưng cho ngựa sắt mà Thánh Gióng đã cưỡi khi đánh đuổi quân thù. So với đền Trình và đền Mẫu thì đền Thượng rộng hơn và có kiến trúc phức tạp hơn. Đền có hai tầng tám mái, các mái đều được uốn cong vút lên trời và được trạm trổ hình rồng.


Tượng đài Thánh Gióng tọa lạc trên đỉnh núi Đá Chồng. Tượng đài được khởi công xây dựng vào năm 2008 và khánh thành vào năm 2010. Tượng đài được đúc bằng đồng nguyên chất, có chiều cao11,07m, độ vươn ra 16m, trọng lượng là 85 tấn.Đây là công trình chào mừng kỉ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội. Du khách có thể lên thăm tượng đài bằng 2 con đường, có thể đi theo lối bậc thang nhỏ từ chân núi cho đến đỉnh, cũng có thể đi theo đường bộ uốn quanh triền núi bằng xe máy hoặc ô tô.  Lên đến đỉnh, ngước mắt lên, trên cao ngút Thánh Gióng đang cưỡi ngựa bay về trời trong dáng vẻ uy nghiêm, hùng dũng.  Từng đám mây nhỏ bay nhẹ qua, quấn lấy bức tượng khung cảnh như thực, như hư. Du khách ngỡ ngàng tưởng như mình đang lạc vào xứ sở thần thánh nào đó, tay dâng lén hương tỏ lòng thành kính, miệng lâm râm khấn vái, cầu cho đất nước phồn vinh, gia đinh êm ấm.


Đền Sóc cũng là nơi diễn ra hội Gióng. Hàng năm cứ ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch, dân làng ở đây mở hội linh đình tại Khu di tích đền Sóc. Lễ hội Gióng, Sóc Sơn diễn ra trong ba ngày với đầy đủ các nghi lễ truyền thống như: lễ khai quang, lễ rước, lễ dâng hương, dâng hoa tre lên đền Thượng, nơi thờ thánh Gióng. Trước ngày hội diễn ra, bảy thôn làng đại diện cho bảy xã chuẩn bị lễ vật trong ngày mở đầu hội chính. Nhưng nghi lễ đặc biệt sẽ được làm vào đêm mùng 5 đó là lễ Dục Vọng để mời ông Gióng về với các lễ vật, lễ phẩm đã được chuẩn bị chu đáo với lòng thành kính, mong đức Thánh Gióng phù hộ cho dân làng có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Ngoài ra, trong hội còn có nhiều trò chơi dân gian sôi động như chọi gà, cờ tướng, hát ca trù, hát chèo… Ngày chính hội là mùng 7, ngày thánh hoá theo truyền thuyết. Ngày khai hội, dân làng và khách thập phương dâng hương, đúng nửa đêm có lễ khai quang – tắm cho pho tượng Thánh Gióng. Nghi lễ chủ yếu trong ngày chính hội là dâng hoa tre ở đền Sóc(thờ Thánh Gióng) và chém tướng giặc. Hoa tre được làm bằng những thanh tre dài khoảng 50 cm, đường kính khoảng 1 cm, đầu được vót thành xơ và nhuộm màu. Sau lễ dâng hoa, tre được tung ra trước sân đền cho người dự hội lấy để cầu may. Chém tướng giặc được thực hiện bằng cách chém một pho tượng, diễn lại truyền thuyết Thánh Gióng dùng tre ngà quật chết tướng cầm đầu giặc Ân là Thạch Linh (đá thành tinh).


Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Thiền viện Trúc Lâm

Thiền viện Phật Giáo Trúc Lâm tọa lạc trên Đỉnh Phượng Hoàng, gần thị trấn Đà Lạt, với diện tích gần 25 hecta. Từ nơi đây, du khách có thể nhìn ngắm một khung cảnh vô cùng hùng vĩ với màu xanh biếc của hồ Tuyền Lâm và sắc xanh thẳm của núi dãy Voi ẩn hiện xa xa sau làn sương mờ ảo xứ sHoa Đào Đà Lạt.

Quần thể Thiền viện Trúc Lâm

Thiền Viện bắt đầu được xây dựng vào năm 1993, đến năm 1994 thì hoàn thành, bản thiết kế do kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng và Trần Đức Lộc vẽ và có sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ (người thiết kế Dinh Độc Lập – nay là Dinh Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh).

Những bậc thang từ hồ Tuyền Lâm dẫn lên Thiền viện

Thiền viện Trúc Lâm nói chung và khu vực Nội viện nói riêng được thiết kế theo phong cách phương Tây khá hiện đại, đơn giản về hình khối nhưng mới mẻ trong cấu trúc và mang tính ứng dụng cao – một lối kiến trúc có phần khác lạ so với những công trình tôn giáo truyền thống của Việt Nam.

Thiền viện được chia ra làm 4 khu vực: khu vực Ngoại viện, khu Tịnh thất hòa thượng, Hòa thượng viện trưởng, khu Nội viện tăng và khu Nội viện ni.

Ngoại Viện là một khu vực cao nguyên rộng rãi nằm trên phần đất của Thiền viện, cao khoảng 1300 mét so với mực nước biển, nhìn ra núi Benhuit và toàn bộ quang cảnh hồ Tuyền Lâm.

Chính điện

Nơi đây bao gồm Chính điện phục vụ tổ chức các nghi lễ, có tháp chuông ở bên phải và khu vực Nhà khách ở bên trái.

Bên trong Chính điện

Chính điện có diện tích 192m2, bên trong thờ tự đơn giản, nhưng mang đầy ý nghĩa của nhà Phật. Giữa điện thờ tượng đức phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni cao khoảng 2m, tay phải cầm cành hoa sen đưa lên, gọi là bức tượng Phật Thích Ca “Liên Hoa Vi Tiếu” – tức là bức tượng miêu tả theo điển tích “Liên Hoa Vi Tiếu”.

Đức phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni
 
Tượng Đạt Ma Sư Tổ

Dọc theo con đường ngoằn ngoèo, trên những ngọn đồi, lối đi vào Thiền viện, du khách có thể được nhìn thấy rất rõ tòa Tháp Chuông từ phía xa.

Tháp Chuông

Đối diện với Tháp chuông là Lầu trống. Mặt trống có đường kính khoảng 80cm.

Lầu trống nằm trước một hoa viên

Trước tam quan có hồ Tĩnh Tâm. Bên dưới lưng đồi là Nhà khách dành để tiếp đón các Phật tử đến tu tập ngắn hạn tại Thiền viện để nghe thuyết pháp và ngồi thiền vào ngày 14 và 29 âm lịch mỗi tháng.

Hồ Tĩnh Tâm

Bên phải chính điện là nhà khách hai tầng, diện tích khoảng 235 m2. Tầng dưới dành tiếp khách, tầng trên là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của khách Tăng hay Phật tử nam các nơi đến Thiền viện tập tu. Phía trước Nhà khách là một khu vườn hoa hồng.

Nhà khách Thiền viện Trúc Lâm
Khu vực Nội viện khuất sau một rừng thông nhỏ bên trái Ngoại viện

Đến với Thiền viện Trúc Lâm tại Đà Lạt, ấn tượng đầu tiên mà hầu hết du khách thập phương đều cảm nhận được rất rõ nét là cảnh quan non xanh nước biếc rất đỗi nên thơ, là một không gian tâm linh huyền bí mà vô cùng thân thuộc, tách biệt hẳn khỏi những xô bồ ồn ã của đời sống thường nhật, mang lại cho tâm hồn mỗi người một khoảng lặng bình yên đến lạ kỳ!.